Nhóm ngân hàng bước vào những tháng cuối năm 2026 với hai câu chuyện cùng tồn tại. Một mặt, tín dụng và lợi nhuận trước thuế tăng mạnh, nền kinh tế mở rộng và định giá toàn ngành thấp hơn trung bình dài hạn. Mặt khác, huy động chưa theo kịp tín dụng, chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản và nợ nhóm 2 đang phình ra. Vì vậy, câu hỏi quan trọng không còn là “ngành ngân hàng có tăng trưởng không?”, mà là ngân hàng nào biến được tăng trưởng bảng cân đối thành lợi nhuận bền vững trên mỗi cổ phần mà không vay mượn tương lai bằng rủi ro tín dụng.
Điểm xuất phát: ngành tăng trưởng tốt nhưng không đồng đều
Số liệu của Cục Thống kê cho thấy đến ngày 26/6/2026, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 7,41% từ đầu năm trong khi huy động của các tổ chức tín dụng tăng 5,02%. Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,97% trong sáu tháng, giữa bối cảnh GDP tăng 8,18%. Nền kinh tế đang tạo cầu tín dụng thật, nhưng chênh lệch giữa cho vay và huy động báo hiệu cuộc cạnh tranh nguồn vốn sẽ tiếp tục.
Báo cáo Guotai Haitong Việt Nam tổng hợp 28 ngân hàng niêm yết ghi nhận lợi nhuận trước thuế sáu tháng đạt 206.195 tỷ đồng, tăng 19,6% so với cùng kỳ; riêng quý II tăng 24,5%. Tuy nhiên, VPB, VCB, CTG, MBB và TCB đóng góp khoảng 87,7% phần lợi nhuận tăng thêm. Con số ngành vì vậy che khuất mức phân hóa rất lớn giữa những ngân hàng đang mở rộng hiệu quả và những ngân hàng chỉ tăng quy mô.
Định giá cũng không còn đắt đồng loạt. Báo cáo Shinhan Securities ngày 19/8/2026 ước tính P/B ngành quanh 1,4 lần, thấp hơn khoảng 14% so với trung bình năm năm. Nhưng P/B thấp chỉ tạo biên an toàn khi giá trị sổ sách đáng tin và ROE tương lai không bị bào mòn bởi chi phí vốn, dự phòng hoặc pha loãng.
Tín dụng tăng không tự động tạo ra lợi nhuận tốt
Một ngân hàng có thể tăng cho vay 20% nhưng lợi nhuận tăng ít hơn nếu phải trả lãi huy động cao, giảm lãi suất cho vay, trích lập dự phòng nhiều hoặc phát hành thêm vốn với tốc độ nhanh hơn lợi nhuận. Nhà đầu tư cần tách tăng trưởng dư nợ khỏi tăng trưởng giá trị trên mỗi cổ phần.
Chất lượng của tăng trưởng phụ thuộc vào ba câu hỏi: tiền cho ai vay, kỳ hạn bao lâu và nguồn nào tài trợ cho khoản vay đó. Cho vay doanh nghiệp lớn thường có biên mỏng nhưng rủi ro phân tán tốt hơn; bán lẻ và tài chính tiêu dùng có biên cao nhưng nhạy với thu nhập hộ gia đình; bất động sản có thể cải thiện lợi suất nhưng kéo dài kỳ hạn và phụ thuộc pháp lý dự án. Cùng một tốc độ tín dụng, hồ sơ lợi nhuận và rủi ro có thể hoàn toàn khác.
NIM chưa tạo đáy: cuộc đua nằm ở chi phí vốn
Trong mẫu 28 ngân hàng, NIM mười hai tháng gần nhất giảm còn 2,95%. Lợi suất tài sản sinh lãi phục hồi khoảng 35 điểm cơ bản so với năm 2025, nhưng chi phí vốn tăng gần 42 điểm cơ bản, khiến biên lãi vẫn giảm khoảng 4 điểm cơ bản. Điều này lý giải vì sao tăng trưởng tín dụng nhanh chưa truyền dẫn tương ứng vào thu nhập lãi.
CASA cao giúp giảm chi phí vốn nhưng không phải lời giải duy nhất. Ngân hàng còn phải giữ tốc độ huy động gần với tốc độ cho vay, quản trị kỳ hạn và tránh phụ thuộc quá lớn vào liên ngân hàng hoặc giấy tờ có giá. TCB là ví dụ về nền vốn tương đối cân bằng: theo công bố chính thức, cuối quý II ngân hàng có CASA 38,3%, NPL 1,15%, bao phủ nợ xấu 125,5% và CAR 15%; nhưng NIM mười hai tháng vẫn giảm còn 3,7% khi chi phí vốn tăng. Ngay cả ngân hàng có nguồn vốn tốt cũng không miễn nhiễm với tái định giá.
Chênh lệch tín dụng - huy động là chỉ báo sớm của biên lợi nhuận
Khi tiền gửi tăng chậm hơn dư nợ, ngân hàng phải nâng lãi suất, phát hành giấy tờ có giá hoặc vay trên thị trường liên ngân hàng. Những nguồn này linh hoạt nhưng thường đắt và nhạy hơn với thanh khoản. Guotai Haitong ước tính nguồn vốn thị trường đã chiếm gần 29,7% nguồn vốn chính của nhóm khảo sát trong nửa đầu năm.
Nhà đầu tư nên theo dõi đồng thời tăng trưởng tiền gửi khách hàng, CASA, LDR và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Một ngân hàng tăng tín dụng chậm hơn đối thủ nhưng có nguồn vốn tự nhiên, ổn định có thể tạo ROE bền hơn ngân hàng tăng rất nhanh bằng nguồn vốn phải tái định giá liên tục.
Nợ xấu đi ngang chưa có nghĩa rủi ro đã đi qua
Tỷ lệ NPL của 28 ngân hàng ở mức 2,02% cuối quý II, nhưng số dư nợ xấu tăng 17,2% từ đầu năm. Đáng chú ý hơn, nợ nhóm 2 tăng 28,3% và tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng 20,8 điểm cơ bản so với cuối 2025. Nợ nhóm 2 chưa phải nợ xấu, nhưng là vùng cảnh báo sớm về các khoản trả chậm hoặc có dấu hiệu suy giảm chất lượng.
Nhà đầu tư chuyên nghiệp không chỉ nhìn NPL. Cần đặt NPL cạnh nợ nhóm 2, tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chi phí tín dụng, quy mô nợ đã xử lý và thu hồi nợ. Dự phòng sáu tháng của nhóm khảo sát tăng khoảng 20% lên gần 83.000 tỷ đồng; nếu loại STB, mức tăng còn 11,4%. Sự tập trung này cho thấy chất lượng lợi nhuận khác nhau rất xa giữa các ngân hàng.
Luật số 96/2025/QH15 có hiệu lực từ 15/10/2025 củng cố cơ chế xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm. Đây là hỗ trợ dài hạn cho khả năng thu hồi, nhưng luật tốt hơn không biến tài sản kém chất lượng thành tiền ngay lập tức. Tốc độ xử lý còn phụ thuộc hồ sơ pháp lý, thanh khoản tài sản và kỷ luật trích lập của từng ngân hàng.
Vốn trở thành rào cản tăng trưởng thật sự
Thông tư 14/2025/TT-NHNN đưa khung an toàn vốn tiến gần hơn Basel III, khiến tăng trưởng không thể chỉ dựa vào mở rộng tài sản. Ngân hàng phải có đủ vốn chất lượng để hấp thụ rủi ro thị trường, tín dụng và hoạt động. CAR cao tạo quyền lựa chọn: tăng tín dụng, trả cổ tức, đầu tư công nghệ hoặc chịu một chu kỳ nợ xấu mà không buộc phải huy động vốn trong điều kiện bất lợi.
Tăng vốn bằng cổ phiếu không phải tự động tích cực hay tiêu cực. Nếu vốn mới giúp duy trì ROE cao nhờ cơ hội cho vay tốt, giá trị dài hạn có thể tăng. Nếu vốn chủ sở hữu tăng nhanh hơn lợi nhuận, EPS và ROE bị pha loãng, P/B hợp lý sẽ thấp hơn. Vì vậy phải đọc kế hoạch sử dụng vốn, không chỉ đọc tỷ lệ cổ tức bằng cổ phiếu.
Bốn nhóm ngân hàng cần nhìn bằng bốn bộ tiêu chuẩn
- Nhóm phòng thủ và chất lượng tài sản: VCB, CTG và ACB nổi bật hơn ở NPL, dự phòng hoặc tính ổn định. Giá trị nằm ở xác suất tổn thất thấp, nhưng mức P/B phải phản ánh đúng ROE và tốc độ tăng trưởng vốn.
- Nhóm cân bằng tăng trưởng - nguồn vốn: TCB và MBB có quy mô, CASA và hệ sinh thái số. Luận điểm mạnh khi tiền gửi bám sát tín dụng, NIM ổn định và nợ nhóm 2 không tăng nhanh hơn dư nợ.
- Nhóm tăng trưởng beta cao: VPB và HDB có khả năng tăng tín dụng và lợi nhuận nhanh, hưởng lợi rõ khi tiêu dùng và bất động sản phục hồi. Đổi lại, nhà đầu tư phải yêu cầu biên an toàn lớn hơn cho chi phí tín dụng, nguồn vốn và chất lượng tài sản.
- Nhóm tình huống đặc biệt: tái cơ cấu, xử lý tồn đọng, bán tài sản hoặc thay đổi sở hữu có thể tạo lợi nhuận đột biến. Luận điểm chỉ có giá trị khi sự kiện chuyển thành tiền và vốn thật, không chỉ là kỳ vọng trên tin tức.
Ba lát cắt doanh nghiệp cho thấy độ phân hóa
TCB công bố lợi nhuận trước thuế sáu tháng 18.500 tỷ đồng, tăng 22,5%; tín dụng tăng 11,6% từ đầu năm, NPL 1,15% và bao phủ 125,5%. Đây là mô hình có tăng trưởng, bộ đệm vốn và chất lượng tài sản tương đối cân bằng, nhưng NIM giảm cho thấy áp lực chi phí vốn vẫn hiện hữu.
ACB đạt lợi nhuận trước thuế hơn 10.700 tỷ đồng; tín dụng tăng 8,6% từ đầu năm, NPL 1%, bao phủ 105% và CAR 11,8%. NIM riêng quý II phục hồi lên 3,02%. Điểm cần theo dõi là tiền gửi khách hàng tăng chậm hơn tín dụng theo so sánh cùng kỳ của báo cáo ngành, nên phục hồi biên lãi phải đi cùng nguồn vốn bền vững.
VPB đạt lợi nhuận trước thuế hợp nhất gần 18.900 tỷ đồng, tăng 68%; NPL riêng lẻ quanh 2% và hợp nhất dưới 3%, LDR 84,5%. Đây là ví dụ về đòn bẩy lợi nhuận cao khi hệ sinh thái cùng phục hồi, nhưng cũng nhạy hơn với chi phí tín dụng và tốc độ hình thành nợ nhóm 2. Ba lát cắt không phải bảng xếp hạng; chúng minh họa vì sao cùng là cổ phiếu ngân hàng nhưng nguồn lợi nhuận và rủi ro khác nhau.
P/B phải được đọc cùng ROE, không được đọc một mình
Ngân hàng thường được định giá bằng P/B vì tài sản và nghĩa vụ tài chính chiếm phần lớn bảng cân đối. Về nguyên lý, P/B hợp lý tăng khi ROE bền vững cao hơn chi phí vốn chủ sở hữu, tăng trưởng dài hạn có chất lượng và rủi ro tổn thất thấp. Một dạng rút gọn của mô hình thu nhập thặng dư là P/B xấp xỉ (ROE - g) / (Ke - g), với g là tăng trưởng dài hạn và Ke là chi phí vốn chủ sở hữu.
Do đó, cổ phiếu ở 0,9 lần giá trị sổ sách có thể vẫn đắt nếu lợi nhuận sắp bị xóa bởi dự phòng; cổ phiếu ở 1,5 lần có thể hợp lý nếu ROE cao, vốn dày và chất lượng tài sản tốt. Trước khi gọi một mã là rẻ, hãy điều chỉnh giá trị sổ sách cho phần tài sản có khả năng mất giá và đặt ROE sau dự phòng vào kịch bản thận trọng.
Các chất xúc tác có thể dẫn dắt những tháng cuối năm
- Tín dụng tăng tốc theo đầu tư công, sản xuất, thương mại và nhu cầu vốn cuối năm, giúp thu nhập lãi tiếp tục mở rộng.
- NIM ổn định nếu lãi suất huy động hạ nhiệt, CASA cải thiện hoặc tài sản sinh lãi được tái định giá nhanh hơn nguồn vốn.
- Thu hồi nợ đã xử lý và xử lý tài sản bảo đảm tốt hơn tạo thu nhập ngoài lãi và giảm gánh dự phòng.
- Tăng vốn hoàn tất đúng tiến độ mở thêm dư địa tín dụng, đặc biệt với ngân hàng có ROE cao và cơ hội sử dụng vốn rõ ràng.
- Thanh khoản thị trường và kỳ vọng nâng hạng hỗ trợ nhóm vốn hóa lớn, nhưng đây là chất xúc tác định giá chứ không thay thế chất lượng lợi nhuận.
Năm rủi ro có thể làm luận điểm sai
- Chi phí huy động tiếp tục tăng trong khi ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay, khiến NIM co mạnh hơn dự kiến.
- Nợ nhóm 2 chuyển thành nợ xấu, đặc biệt ở cho vay tiêu dùng, bất động sản và doanh nghiệp có dòng tiền yếu.
- Tăng tín dụng dồn vào kỳ hạn dài làm căng thanh khoản và tăng rủi ro lệch kỳ hạn.
- Tăng vốn hoặc cổ tức cổ phiếu làm số cổ phần tăng nhanh hơn lợi nhuận, khiến EPS và ROE không đạt kỳ vọng.
- P/B tái định giá xuống vì lạm phát, lãi suất hoặc phần bù rủi ro thị trường tăng, dù lợi nhuận danh nghĩa vẫn tăng.
Bốn kịch bản cho cuối năm 2026
- Kịch bản cơ sở: tín dụng duy trì cao, NIM ổn định dần và nợ xấu tăng trong tầm kiểm soát. Nhóm có nguồn vốn tốt, dự phòng đủ và ROE bền vững có khả năng dẫn dắt hơn nhóm chỉ tăng tín dụng.
- Kịch bản tích cực: chi phí vốn giảm, tín dụng tăng tốc và thu hồi nợ cải thiện. Ngân hàng tăng trưởng cao có thể được tái định giá nhanh, nhưng mức tăng giá sẽ phụ thuộc phần kỳ vọng đã phản ánh trước đó.
- Kịch bản siết biên: huy động đắt lên trong khi lãi cho vay bị giữ thấp. Lợi nhuận vẫn tăng nhờ quy mô nhưng ROE giảm; thị trường có thể giảm P/B mục tiêu ngay cả khi báo cáo kết quả chưa xấu.
- Kịch bản tín dụng xấu: nợ nhóm 2 chuyển nhóm, dự phòng tăng và thanh khoản tài sản bảo đảm yếu. Khi đó, cổ phiếu có NPL thấp, LLR cao và vốn dày thường chống chịu tốt hơn; nhóm beta cao chịu điều chỉnh mạnh hơn.
Bảng điểm mười câu hỏi trước khi chọn một mã ngân hàng
- Tín dụng tăng từ phân khúc nào và lợi suất tương xứng với rủi ro hay không?
- Tiền gửi khách hàng có tăng gần bằng dư nợ, hay ngân hàng đang mua tăng trưởng bằng vốn đắt?
- CASA, LDR và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn đang cải thiện hay xấu đi?
- NIM thay đổi do giá tài sản, chi phí vốn hay cơ cấu khách hàng?
- Nợ nhóm 2 tăng nhanh hơn tổng dư nợ trong mấy quý liên tiếp?
- LLR và chi phí tín dụng có đủ hấp thụ một kịch bản xấu hơn?
- Lợi nhuận đến từ hoạt động cốt lõi hay khoản thu một lần và hoàn nhập?
- CAR sau cổ tức còn đủ cho kế hoạch tăng trưởng không?
- ROE sau pha loãng có cao hơn chi phí vốn chủ sở hữu một khoảng đủ lớn?
- Giá hiện tại còn biên an toàn bao nhiêu nếu P/B và lợi nhuận cùng thấp hơn kịch bản cơ sở?
Cách hành động: mua một luận điểm, không mua một cái tên
Nhà đầu tư thận trọng có thể ưu tiên bảng cân đối sạch, dự phòng cao và nguồn vốn ổn định, chấp nhận tốc độ tăng giá vừa phải hơn. Nhà đầu tư tăng trưởng có thể chọn ngân hàng có đòn bẩy lợi nhuận lớn, nhưng cần giới hạn tỷ trọng và đặt điều kiện thoát dựa trên NIM, nợ nhóm 2 và chi phí tín dụng. Không nên gom cả ngành như một giao dịch đồng nhất.
Giải ngân theo nhiều phần giúp giảm rủi ro sai thời điểm, nhưng không sửa được sai luận điểm. Mỗi vị thế nên có một trang theo dõi ngắn: ba chỉ số phải đúng, hai rủi ro có thể chấp nhận và một điều kiện buộc đánh giá lại. Giá giảm chỉ là cơ hội khi dữ liệu nền không xấu đi nhanh hơn giá.
Kết luận: cuối năm là cuộc thi về chất lượng tăng trưởng
Bối cảnh cuối năm 2026 vẫn thuận lợi cho doanh thu ngành nhờ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tín dụng. Nhưng dư địa tăng giá không phân bổ đều. Khi định giá đã phản ánh một phần phục hồi, thị trường sẽ thưởng cho ngân hàng có khả năng giữ NIM, kiểm soát nợ nhóm 2, duy trì vốn và chuyển lợi nhuận thành ROE trên mỗi cổ phần.
Nhận định trong bài sử dụng dữ liệu công bố đến ngày 20/8/2026 và mang tính giáo dục. Đây không phải khuyến nghị mua, bán hay giá mục tiêu cho bất kỳ cổ phiếu nào. Nhà đầu tư cần cập nhật báo cáo quý III, giá thị trường và khẩu vị rủi ro trước khi ra quyết định.
ĐIỂM CẦN NHỚ
Luận điểm mạnh nhất cho cổ phiếu ngân hàng cuối năm 2026 không phải “tín dụng tăng”, mà là “tín dụng tăng bằng nguồn vốn bền vững, NIM được bảo vệ và nợ nhóm 2 không chuyển hóa thành chi phí tín dụng lớn”. Hãy định giá ROE sau dự phòng và sau pha loãng, không định giá tốc độ tăng dư nợ.
Nguồn tham khảo
- Cục Thống kê — Kinh tế xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2026
- Cục Thống kê — CPI và lạm phát bảy tháng năm 2026
- Guotai Haitong Việt Nam — Bức tranh kinh doanh ngân hàng 1H2026 và triển vọng 2H2026
- Shinhan Securities — Banking: Solid growth, but uncertainty persists
- Techcombank — Kết quả tài chính nổi bật sáu tháng đầu năm 2026
- ACB — Kết quả kinh doanh sáu tháng năm 2026
- VPBank — Kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2026
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ — Thông tư 14/2025/TT-NHNN về an toàn vốn
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ — Luật số 96/2025/QH15
